Đang tải... Vui lòng chờ...
THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ HTX NÔNG NGHIỆP
1.1. Về nguồn nhân lực

- Tổng số XV của 21 HTX là 1031 XV, số lượng xã viên bình quân/HTX là 49 xã viên

- Số chủ nhiệm HTX có trình độ đại học chiếm 4,77%, trình độ cấp 3 là 52,38% và trình độ dưới dưới cấp 3 là 42,85%

 Số Phó chủ nhiệm có trình độ đại học là 0%; trình độ cấp 3 chiếm tỷ lệ 41%; trình độ dưới cấp 3 chiếm tỷ lệ 59%.

 Số Kế toán có trình độ đại học chiếm tỷ lệ 0.00%, có trình độ cấp 3 chiếm tỷ lệ 95%; trình độ dưới cấp 3 chiếm tỷ lệ 5%.

 Số HTX có Trưởng ban kiểm soát chiếm tỷ lệ 95,23% (20/21HTX); số Trưởng ban kiểm soát có trình độ đại học là 0%,  trình độ cấp 3 chiếm tỷ lệ 45%, trình độ dưới cấp 3 chiếm tỷ lệ 55%;

 Số Tổ trưởng, Tổ phó, Cán bộ chuyên môn có trình độ đại học chiếm tỷ lệ 4,76%; trình độ cấp 3 chiếm tỷ lệ 28,57%; trình độ dưới cấp 3 chiếm tỷ lệ 66.66%.

1.2. Về vốn

- Tổng vốn điều lệ của 21 HTXNN đang hoạt động là 10.647 triệu đồng. Vốn ghi trong điều lệ bình quân/HTX là 507 triệu đồng, cao hơn so với vùng Đồng bằng sông cửu long năm 2007 (173 triệu đồng), cao hơn so với cả nước năm 2007 (342 triệu đồng)Hợp tác xã ghi vốn điều lệ cao nhất là 6.000 triệu đồng (Tân Địa Lợi), HTX ghi vốn điều lệ thấp nhất là 19,5 triệu đồng (bò sữa, bò thịt Đức Hòa).

- Tổng vốn thực góp của XV là 5.601,23 triệu. Vốn thực góp của xã viên bình quân/HTX là 266,72 triệu đồng, cao hơn so với vùng Đồng bằng Sông Cửu long  năm 2004 (112,776 triệu đồng) và cao hơn so với cả nước năm 2004 (149,441 triệu đồng). HTX góp vốn điều lệ cao nhất là 3.500 triệu đồng (Tân Địa Lợi), HTX góp vốn điều lệ thấp nhất là 3,5 triệu đồng (Long Khê, Đồng Thuận), không kể 2 hợp tác xã chưa góp vốn điều lệ.

- Tổng vốn kinh doanh là 8.900,567 triệu đồng.Vốn kinh doanh bình quân/HTX là 423,836 triệu đồng, cao hơn so với Đồng bằng sông cửu long năm 2007 (401 triệu đồng), thấp hơn so với bình quân của cả nước năm 2007 (640 triệu đồng). HTX có vốn kinh doanh cao nhất là 6.000 triệu đồng (Tân Địa Lợi), HTX có vốn kinh doanh thấp nhất là 50 triệu đồng (Thạnh Hưng), không kể 5 HTX không có vốn kinh doanh.

Như vậy, bình quân vốn ghi trong điều lệ, vốn thực góp bình quân trên HTX đều tăng so với mốc năm 2004 và năm 2007 điều này cho thấy quy mô sản xuất – kinh doanh, dịch vụ của các HTX nhỏ  có xu hướng giảm; tình hình công nợ của HTX có tốt hơn so với trước.

1.3. Về nguồn gốc hình thành, ngành nghề đăng ký kinh doanh, trụ sở làm việc

- Có 8 HTX thành lập từ Tổ hợp tác, chiếm tỷ lệ 38,09%. Số HTX thành lập từ hình thức khác là 13 HTX chiếm tỷ lệ 61,91%. Trong 21HTX có 16 HTX hoạt động có lãi và 5 HTX không có lãi

- Các HTX đăng ký nhiều ngành nghề kinh doanh trong đó có 17 HTX đăng ký ngành dịch vụ nông nghiệp chiếm tỷ lệ 80,95%; 8 HTX đăng ký ngành sản xuất - kinh doanh nông, lâm, ngư nghiệp chiếm tỷ lệ 38,09% và 9 HTX đăng ký thêm ngành khác chiếm tỷ lệ 42,85%.

- Số HTX không có trụ sở làm việc là 6 HTX, chiếm tỷ lệ 28,57%. Số HTX có trụ sở làm việc là 15 HTX, chiếm tỷ lệ 71,43%. Trong đó đất để làm trụ sở do HTX tự mua là 1 HTX ; của xã viên là 3 HTX; được nhà nước cấp và cho mượn là 5 HTX; và từ các hình thức khác (thuê, mướn...) là 8 HTX.

Như vây, số HTX thành lập từ Tổ hợp tác đã tăng so với năm 2004 và hoạt động có hiệu quả, điều này thể hiện các HTX đã đi đúng hướng vì các HTX thành lập từ Tổ hợp tác thì đã được tập dượt về cách quản lý, điều hành; đa số các HTX làm dịch vụ nông nghiệp đây cũng là định hướng phù hợp đối với HTXNN; số hợp tác xã có trụ sở làm việc còn ít, trong đó số HTX được chính quyền địa phương cấp đất làm trụ sở quá ít (5/21HTX).

 1.4. Về lao động, tư liệu sản xuất của HTX

- Tổng số lao động làm việc trong HTX có hưởng lương (trực tiếp và gián tiếp) là 306 người; bình quân/HTX có 14.5 người, HTX cao nhất là 128 người (HTX thanh long Tầm Vu); lương bình quân/lao động là 600.000đ/tháng, người hưởng lương cao nhất là 2,3 triệu đồng/tháng. 11 HTX không có lương cho ban quản lý, điều hành, kế toán và Ban kiểm soát chiếm tỷ lệ 52,38%.

- Tổng diện tích đất sản xuất của xã viên các HTX là 1.649ha, bình quân một HTX có 79 ha, HTX có diện tích cao nhất là 280 ha, HTX có diện tích thấp nhất là 8 ha.

- Diện tích đất sản xuất của HTX không có, chỉ có HTX Hưng Phát có 0,2 ha.

- Tổng diện tích trụ sở, nhà xưởng, kho bãi của các HTX là 4.397 m2, bình quân 1 HTX là 209 m2 trong đó HTX cao nhất là 1100 m2(HTX Láng Cò). Số HTX không có diện tích nhà xưởng, kho bãi là 6 HTX, chiếm tỷ lệ 28,57%.

- Tổng số các loại máy móc, phương tiện của HTX là 196 cái, bình quân mỗi HTX có 9,3 máy các loại, trong đó số lượng máy bơm nước, motơ loại nhỏ là nhiều nhất (129 cái). Số HTX thực sự có các loại máy móc có giá trị như máy gặt đập liên hợp, máy sấy, trạm bơm chỉ có 10 HTX, chiếm tỷ lệ 47,61%.

Như vậy, số lượng lao động làm việc trong hợp tác xã có hưởng lương còn thấp, mức lương bình quân/tháng thấp, tỷ lệ HTX không chi trả được lương cho bộ máy quản lý còn cao; diện tích nhà xưởng, kho bãi, phương tiện máy móc của các HTX quá ít, giá trị thấp, số HTX thực sự có tài sản chung không nhiều (50%).

1.5. Về phương thức quản lý của HTX

- Ngoài điều lệ HTX, số HTX có xây dựng quy chế hoạt động là 14 HTX chiếm tỷ lệ 66,66%.

- Số HTX có xây dựng kế hoạch, báo cáo định kỳ (tháng, quý, 6 tháng, năm) là 12 HTX chiếm tỷ lệ 57,14%.

- Số HTX có hệ thống số sách kế toán theo quy định là 12 HTX, chiếm tỷ lệ 57,14%; số HTX không có sổ sách kế toán theo quy định là 9 HTX, chiếm tỷ lệ 42,86%.

- Số HTX có xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật cho các hoạt động sản xuất – kinh doanh, dịch vụ là 8 HTX, chiếm tỷ lệ 38,09%.

Như vậy, các HTX đã có phương thức quản lý tương đối tốt nhưng vẫn còn có các HTX chưa xây dưng kế hoạch, báo cáo định kỳ; chưa có hệ thống sổ sách kế toán theo quy định và chưa xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật cho các hoạt động sản xuất - kinh doanh, dịch vụ của mình.

1.6. Kết quả sản xuất - kinh doanh, dịch vụ của HTX 6 tháng đầu năm 2010

- 16 HTX hoạt động có lãi, chiếm tỷ lệ 76,2% (trong đó có 7 HTX chưa tổng kết số lượng cụ thể), 5 HTX không có lãi chiếm tỷ lệ 23,8%

- Tổng số lãi sau thuế là 2157 triệu đồng, lãi bình quân/HTX là 102,71 triệu đồng, tăng 2,5 lần so với năm 2007 (41 triệu đồng) cao hơn so với bình quân chung của vùng Đồng bằng sông cửu long năm 2007 (72 triệu đồng); cao hơn bình quân chung cả nước năm 2007 (50 triệu đồng).

- Tổng doanh thu của các HTX là 3353 triệu đồng, doanh thu bình quân/HTX là 159,66 triệu đồng.